Pages

Powered by Blogger.

Monday, 4 July 2016

Thông tin đa chiều trong dòng chảy thời cuộc

Nhà báo viết văn không ít, mà nhà văn tham gia làm báo cũng không ít, nhưng tác phẩm văn chương viết về nghề báo lại không nhiều. Vì sao? Vì nghề báo gắn liền với sự kiện và trôi dạt theo sự kiện, rất khó tìm được khoảnh khắc để neo lại. Tài năng cỡ như Vũ Bằng, cũng chỉ chọn thể loại hồi ký để viết về nghề báo, qua cuốn sách nổi tiếng “Bốn mươi năm nói láo”.
Thong tin da chieu trong dong chay thoi cuoc - Anh 1
Trong văn học thế giới, cũng rất hiếm hoi những tác phẩm viết về nghề báo. Được nhiều người đón đọc nhất có lẽ là tiểu thuyết “Quyền lực thứ tư” (The fourth estate) của Jeffrey Archer. Ông nhà văn sinh năm 1940 này cũng là một chính trị gia, ở tuổi 30 đã lừng lẫy trong Hạ viện Anh. “Quyền lực thứ tư” cùng với “Truy tìm bức tranh thánh” là hai tác phẩm ăn khách bậc nhất của Jeffrey Archer.
Tiểu thuyết “Quyền lực thứ tư” được Jeffrey Archer xây dựng trên dữ liệu lịch sử đầy cảm hứng: “Tháng 5-1789, vua Pháp – Louis XVI triệu tập đại diện của các đẳng cấp đến họp tại cung điện Versailles. Đẳng cấp thứ nhất gồm 300 nhà quý tộc. Đẳng cấp thứ hai gồm 300 chức sắc tăng lữ. Đẳng cấp thứ ba gồm 600 thường dân. Vài năm sau Cách mạng Pháp, Edmund Burke nhìn lên khu vực dành cho giới báo chí trong Hạ viện, nói: Trên đó là đẳng cấp thứ tư, và họ nắm giữ quyền lực nhiều hơn mọi đẳng cấp khác!”.
Ở nước ta, báo chí không được định dạng như “quyền lực thứ tư”, do đó cũng không dễ có được tiểu thuyết như Jeffrey Archer. Cách đây hơn 10 năm, nhà văn- nhà báo Trần Chiến từng có tiểu thuyết “Đèn vàng” khá xôn xao. Dịp 21-6 năm nay, nhà văn- nhà báo Trần Văn Tuấn giới thiệu tiểu thuyết “Thông tin đa chiều” đến bạn đọc.
Tiểu thuyết “Đèn vàng” được Trần Chiến viết theo cấu trúc quen thuộc, có nhân vật chính Vĩnh và vun đắp tác phẩm xoay quanh vui buồn của Vĩnh. Ngược lại, tiểu thuyết “Thông tin đa chiều” của Trần Văn Tuấn lấy báo S làm trung tâm, và diễn biến câu chuyện theo từng nhân vật, từng sự kiện. Khoảng thời gian trong “Thông tin đa chiều” kéo dài từ 1980 đến 2004, tác giả giải quyết từng chương theo kiểu kịch tình huống hoặc phim sitcom. Có thể đọc liền mạch và cũng có thể đọc từng chương.
Nhà văn – nhà báo Trần Văn Tuấn có gần 30 năm làm báo Sài Gòn Giải Phóng, từ vị trí phóng viên lên đến chức Phó Tổng Biên tập, nên ông không xa lạ gì với kỹ nghệ làm báo và hậu trường nghề báo. Tuy nhiên, điều làm nên sức hấp dẫn cho “Thông tin đa chiều” chính là văn phong linh hoạt và hóm hỉnh của tác giả. Phải thừa nhận, có nhiều chương được Trần Văn Tuấn viết rất khéo léo. Trong hàng chục gương mặt xuất hiện trong “Thông tin đa chiều”, Trần Văn Tuấn chỉ cần chấm phá vài nét là bạn đọc đủ sức nhận diện nhân vật như ông thủ trưởng Hai Tạ người thấp đậm nhưng nhanh nhẹn, luôn quăng mình ra khỏi xe hơi lẹ hơn người khác 5 giây. Cũng có nhân vật, Trần Văn Tuấn khai thác thói quen của họ để phác thảo chân dung, như cô Hoa làm thư viện có sự thay đổi tính cách qua câu cửa miệng, từ “ối giời ơi” sang “giời ơi là giời”.
Tiểu thuyết “Thông tin đa chiều” đọc vui và cũng có nhiều điều đáng suy ngẫm. Bởi lẽ, bối cảnh Trần Văn Tuấn tập trung phản ánh chính là giai đoạn báo chí chuyển mình cùng đất nước đổi mới. Cái tư duy bao cấp được cải hoán và thay thế bằng cái tư duy thị trường. Thân phận nhà báo sống giữa trung tâm thời cuộc, họ thấm thía hết, họ thấu hiểu hết, họ chia sẻ hết và cũng cũng nếm trải hết. Đồng tiền thay cho tem phiếu, thông tin phải khác và đã khác như thế nào, luôn tác động mạnh mẽ vào mỗi nhà báo. Và điều quan trọng nhất mà Trần Văn Tuấn muốn làm sáng tỏ là trong làng báo cũng có hàng trăm loại người khác nhau, có người làm báo như một lý tưởng và có người làm báo như một… chỗ dựa nhằm tìm kiếm lợi ích từ thiên chức của mình.
Không chủ đích thần thánh hóa nghề báo, nên Trần Văn Tuấn có những trang văn rất gần gũi và ấm áp. Nhà báo cũng có những mưu cầu như người bình thường, cũng có người cao thượng, cũng có người nhỏ nhen. Và giữa vòng xoáy danh lợi, những gì phía trên mặt báo và những gì phía dưới mặt báo, luôn ngổn ngang bao nhiêu khóc cười. Lòng yêu nghề luôn bị thử thách, và sự lương thiện luôn bị thử thách. Chỉ cần có chút quan tâm đến làng báo, sẽ thấy những nhân vật của Trần Văn Tuấn như Ba Bình, Lê Khắc Khổ, Bảnh Chọe hay Tứ Tiếu đều là những phiên bản từ thực tế rộn ràng hôm nay. Họ đến với nghề báo, họ chìm vào nghề báo và họ tan biến vào nghề báo.
“Thông tin đa chiều” là bức tranh báo chí Việt Nam tự đột phá để vươn lên chuyên nghiệp. Cho nên, bài toán giữa chức năng tuyên truyền và nhu cầu bạn đọc, được đặt ra thường xuyên và đau đáu. Có thể minh định điều này qua cuộc sát hạch của ông thủ trưởng Hai Tạ dành cho chàng trai lái tàu miền sông nước Lê Đại Sách muốn theo đuổi nghề báo: “Ông Hai Tạ hỏi gã: Cậu biết gì về nghề báo?. Gã nói ngay: Mẹ cháu bảo, làm báo cũng giống như gãi ngứa. Gãi đúng chỗ người ta khen. Gãi không đúng chỗ, người ta đánh bỏ mẹ… Ông Hai Tạ hài lòng: Về ban Kinh tế…”.
Hơn 400 trang sách “Thông tin đa chiều” được nhà văn – nhà báo Trần Văn Tuấn chia làm ba phần. Phần một: Người với Việc. Phần hai: Việc với Người. Phần ba: Người Với Người. Thẳng thắn mà đánh giá, 18 chương của phần một và 10 chương của phần hai đều thuyết phục. Thế nhưng, 14 chương của phần ba lại hơi vụng về và nao núng. Lý do không khó hiểu, phần một và phần hai nói về giai đoạn báo chí bao cấp và báo chí đổi mới, tác giả dự phần sâu sắc nên nắm bắt tỉ mỉ. Còn phần ba có tham vọng phân tích báo chí thị trường với sự tác động của những công ty truyền thông vào đời sống xuất bản, tác giả không rành mạch những ngõ ngách giai đoạn này nên không thể mổ xẻ câu chuyện một cách điêu luyện và uyển chuyển như hai phần trước. Nếu chỉ dừng lại ở hai phần Người Với Việc và Việc Với Người, gói ghém trong độ dày 300 trang, thì “Thông tin đa chiều” gọn gàng hơn và hoàn chỉnh hơn.

Giáo dục trong xã hội tri thức

Giáo dục là bộ phận của cuộc nghị luận về xã hội tri thức, đồng thời, những chủ đề trung tâm của giáo dục như dạy và học - hay nói chung, xây dựng năng lực của chủ thể - góp phần kiến tạo nên cuộc nghị luận về xã hội tri thức
Xã hội tri thức gắn liền với sự phát triển và thay đổi của xã hội. Ta phân biệt giữa quan niệm về xã hội tri thức và nghị luận về xã hội tri thức. Quan niệm về nó là một mạng lưới những khái niệm, phạm trù và những giả định cơ bản để mô tả những thay đổi về cấu trúc trong các lĩnh vực xã hội, chính trị, kinh tế, kỹ thuật truyền thông, hiểu như là một nỗ lực nghiên cứu khoa học. Còn nghị luận về xã hội tri thức là tiếp thu và thảo luận có chọn lọc về xã hội tri thức dưới nhiều giác độ khác nhau để hình thành các chính sách tương ứng, chẳng hạn, về kinh tế, xã hội, y tế, giáo dục v.v. Trong tinh thần ấy, giáo dục là bộ phận của cuộc nghị luận về xã hội tri thức, đồng thời, những chủ đề trung tâm của giáo dục như dạy và học - hay nói chung, xây dựng năng lực của chủ thể - góp phần kiến tạo nên cuộc nghị luận ấy. Trong bài này, ta sẽ lược qua quá trình hình thành nghị luận về xã hội tri thức, trước khi mô tả những quan niệm mới mẻ về giáo dục đi liền với những thay đổi về cấu trúc xã hội, như "sở đắc năng lực", "học suốt đời" và "tự tổ chức việc học".
"Xã hội hóa tri thức": Hai chặng đường
Khái niệm xã hội tri thức hình thành như thế nào và được hiểu ra sao? Thiết nghĩ cần một cái nhìn "phả hệ học" ngắn gọn về nó, ở cả hai mặt: lịch sử và hệ thống. Tất nhiên, xã hội tri thức không phải là một quan niệm nhất quán, mà là một sự thống nhất trong đa dạng những nghị luận, ở đây, chủ yếu xoay quanh phương diện "tri thức".
Năm 1966, khái niệm tiếng Anh "knowledgeable society" của nhà xã hội học Robert E.Lane ghi đậm dấu ấn lên cuộc nghị luận về "xã hội hậu hiện đại" (hiểu như sự đoạn tuyệt với những ý niệm lớn của Hiện đại "cổ điển", nhấn mạnh đến tính đa nguyên, tính đa viễn tượng và giải trung tâm). Khái niệm của Lane nói lên sự đảo lộn mang tính thời đại về khoa học và kỹ thuật, đi từ nền kinh tế dựa vào sản xuất sang nền kinh tế dịch vụ dựa vào tri thức. Tri thức chiếm ưu thế so với các khu vực truyền thống như nông nghiệp và công nghiệp. Tri thức, như là lực lượng sản xuất, dẫn đến những thay đổi cơ bản về cấu trúc xã hội, các quan hệ quyền lực và các hình thức chủ thể hóa.
Về mặt lịch sử, người ta thường chia khái niệm "xã hội tri thức" thành hai giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất vào những năm 1960 thế kỷ trước. Nhà xã hội học Alain Touraine (“Xã hội hậu công nghiệp”, 1969) vừa nhấn mạnh tầm quan trọng của tri thức như là lực lượng sản xuất trung tâm của xã hội hậu công nghiệp, vừa cảnh báo nguy cơ của một "xã hội bị chương trình hóa" do lý tính công nghệ thống trị. Khi tri thức trở thành thế lực chủ đạo, nó sẽ gắn liền với quyền lực và thống trị. Tri thức sẽ phải phục tùng sự đánh giá về mặt hiệu quả xã hội. Những hình thức tri thức mơíkhông khỏi tạo ra những hình thức bất công mới: cho tham gia hoặc bị loại trừ. Bên cạnh sự phân tích có tính phê phán của Touraine là phác thảo đậm tính duy lý-công nghệ của Daniel Bell. Theo đó, xã hội không còn dựa vào tài nguyên hay năng lượng như trước đây nữa, mà dựa vào việc khai thác tài nguyên trí tuệ. Ngược lại với xã hội công nghiệp sản xuất hàng hóa, từ nay, tri thức lý thuyết mới là cơ sở để tổ chức xã hội. Chuyên gia, học giả, nhà tư vấn sẽ là khuôn mặt hàng đầu của xã hội mới. Trong xã hội công nghiệp trước đây, chất lượng cuộc sống được đo lường bằng số lượng hàng hóa được sản xuất ra. Do vai trò tăng lên của "người lao động trí óc", theo Nico Stehr, chất lượng cuộc sống từ nay được đánh giá dựa theo chất lượng dịch vụ và tiện nghi trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, nghệ thuật, nghỉ ngơi giải trí…
Cuộc nghị luận bước vào giai đoạn thứ hai hiện nay từ những năm 1990 với ảnh hưởng ngày càng mạnh của sự cải cách theo xu hướng "tân-tự do": nhà nước mạnh, nhưng chỉ để phục vụ cho nền kinh tế thị trường tự do "tuyệt đối", tăng cường tư nhân hóa với sự tiết giảm không tránh khỏi của "nhà nước phúc lợi". "Xã hội tri thức", trong bối cảnh ấy, mang bốn đặc điểm: 1. Sự bùng nổ vượt bật của các công nghệ thông tin và truyền thông; 2. Bên cạnh các nhân tố cổ điển là vốn và lao động, tri thức trở thành nguyên nhân quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế; 3. Xã hội tri thức ngày càng được đồng hóa với nền kinh tế dịch vụ dựa vào tri thức; và 4. Xã hội phải dựa vào "những tổ chức có năng lực (tự) học hỏi" với hoạt động trí óc và truyền thông gia tốc và những con người có khả năng chuyên môn cao. Nói ngắn, xã hội tri thức đặt vận mệnh của mình vào tay những thay đổi về cấu trúc kinh tế, các chính sách táo bạo và kịp thời về chính sách tổ chức và chính sách nhân sự.
Giáo dục trong xã hội tri thức
Dù muốn hay không, để đáp ứng với thời cuộc, phải khẩn cấp thay đổi hệ thống và chính sách giáo dục. Hệ thống giáo dục rõ ràng không kịp chuẩn bị trước những thách thức mới, ngay cả ở các nước tiên tiến, thể hiện qua rất nhiều đề án cải cách giáo dục ở châu Âu và Bắc Mỹ. Mục tiêu chung của những nổ lực cải cách ấy là xây dựng tính tự chủ của cá nhân, nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực, khuyến khích sự tham gia của mọi thành phần xã hội và tạo sự bình đẳng về cơ hội.
"Công nghiệp hóa tri thức"?
Không thể phủ nhận những tiến bộ vượt bật của xã hội tri thức, nhưng vẫn có tiếng nói phê phán và phản tĩnh: xã hội tri thức có thực sự thay thế cho xã hội công nghiệp không hay tri thức ngày càng bị công nghiệp hóa? Có thể chỉ hiểu tri thức là chuyển trao những kết quả nghiên cứu cho những công nghệ mới? Giáo dục có còn là “mục đích tự thân” hay chỉ là việc đào tạo những “bộ máy thông tin” được cá nhân hóa nhằm nhân lên những tri thức được công nghiệp hóa,hướng theo mục tiêu tăng trưởng kinh tế đơn thuần? Việc đồng dạng hóa chương trình học tập, thi cử, cấp bằng giữa châu Âu và Bắc Mỹ (“cải cách Bologna”), việc "mô đun hóa" nội dung giảng dạy và rút ngắn thời gian đào tạo nhằm tăng áp lực lên việc kết thúc việc học nhanh chóng và hiệu quả không gì khác hơn là những biểu hiện của nguyên lý “công nghiệp hóa”!
Khác với “thủ công” nhắm đến việc sản xuất có tính cá nhân những sản phẩm không đồng nhất trong những điều kiện không đồng nhất, công nghiệp hóa là đồng dạng hóa và đồng nhất hóa về mọi phương diện. "Ý niệm giáo dục" theo truyền thống nhân văn cổ điển ("con người cá nhân tự hiện thực hóa chính mình trong sự tự do và tự quyết") sẽ ra sao trong điều kiện mới? Ta sẽ tiếp tục xét ba nhân tố mới của chủ thể giáo dục trong xã hội tri thức: sở đắc năng lực, học tập suốt đời và tự (tổ chức việc) học.
 
Blogger Templates